Tổng hợp tài liệu :

Phong cách nghệ thuật thơ tố hữu

Phong cách nghệ thuật thơ khương hữu dụng

Phong cách nghệ thuật thơ khương hữu dụng
. tiếp nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ Khương Hữu Dụng một cách hệ thống. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Sự nghiệp thơ Khương Hữu Dụng gồm hai mảng. tập trung nghiên cứu thơ Khương Hữu Dụng ở phần sáng tác. Luận văn ñi vào tìm hiểu những ñiểm nổi bật trong phong cách thơ Khương Hữu Dụng qua các chặng
  • 26
  • 450
  • 0

Tài liệu Nhận định về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị”. Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên ppt

Tài liệu Nhận định về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị”. Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên ppt
. Nhận định về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị”. Anh (chị) hãy bình. khuynh hướng thơ trữ tình chính trị mà Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu. - Đúng như SGK Văn học 12 nhận định Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ
  • 8
  • 1,772
  • 25

Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu

Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu
. Luyn thi Đi hc đảm bảo môn Ng văn.Đ bài: Nêu nhng nt chnh trong phong cch ngh thut ca T HuĐp n – Hưng d!n l#m b#i
  • 2
  • 1,579
  • 8

Đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu - văn mẫu

Đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu - văn mẫu
1. Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám: - Hai tập thơ đầu tay là thơ thơ và gửi hương cho gió đã đem lại cho nền văn học nước nhà một đóng góp vô giá cho cuộc cách mạng thơ ca giai đoạn 1930-1945, thể hiện nhiều sự cách tân táo bạo. Tiếp thu phần tích cực […] phan tich an y man doi thoai giua hon truong ba va xac hang thit, suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà, Csuy nghĩ của em về đức tính tự tin, hien tai la nguyen khi cua quoc gia, soạn lòng yêu nước, Van mau bai rung xa nu, ta ve mua xuan, bai van chung jminh cau tuc ngu that bai la me thanh conh, phan tich doan tholop lop may cao cung nho nhatrang giang cua huy can, giải thích câu tuc ngữ có chí thì nên . 1. Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám: - Hai tập thơ đầu tay là thơ thơ và gửi hương cho gió đã đem lại cho nền văn học nước nhà một đóng góp vô giá cho cuộc cách mạng thơ ca giai. người nghệ sĩ nên Xuân Diệu cảm thấy vỡ mộng, bất lực và rơi vào “cái tôi cô đơn” của chính mình. 2. Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám: - Sau Cách mạng, hồn thơ Xuân Diệu mở rộng như muốn. Thơ Xuân Diệu thể hiện sự nổ lực muốn hòa nhập cái tôi vào cái ta chung rộng lớn của Đất nước. - Xuân Diệu làm việc với 1 cường độ phi thường, số lượng tác phẩm của ông rất lớn. Ngoài mạng thơ
  • 1
  • 5,517
  • 14

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu - văn mẫu

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu - văn mẫu
a.    Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc: bao trùm thơ Tố Hữu là vấn đề lý tưởng,lẽ sống: lẽ sống CM,lẽ sống cộng sản,vì mục đích chung của đất nước.Đi liền với lẽ sống là tình cảm lớn,niềm vui lớn của con người CM đối với lãnh tụ,nhân dân,đất nước. […] phan tich an y man doi thoai giua hon truong ba va xac hang thit, suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà, Csuy nghĩ của em về đức tính tự tin, hien tai la nguyen khi cua quoc gia, soạn lòng yêu nước, Van mau bai rung xa nu, ta ve mua xuan, bai van chung jminh cau tuc ngu that bai la me thanh conh, phan tich doan tholop lop may cao cung nho nhatrang giang cua huy can, giải thích câu tuc ngữ có chí thì nên . mang phong cách tiêu biểu cho cả cộng đồng như: chị Trần Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi… c. Thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình,ngọt ngào,đày tình thương mến: xuất phát từ quan niệm về thơ: Thơ. lãnh tụ,nhân dân,đất nước. b. Thơ Tố Hữu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: nhà thơ chủ yếu quan tâm đến những vấn đề sống còn của đất nước.Cảm hứng của Tố Hữu là cảm hứng lịch sử dân. a. Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc: bao trùm thơ Tố Hữu là vấn đề lý tưởng,lẽ sống: lẽ sống CM,lẽ sống cộng sản,vì
  • 1
  • 908
  • 3

Đề tài phong cách nghệ thuật thơ huy cận qua lửa thiêng

Đề tài  phong cách nghệ thuật thơ huy cận qua lửa thiêng
Luận án tiến sĩ năm 2011Đề tài: Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng Định dạng file wordLý do chọn đề tài 1.1. Nghiên cứu thơ Huy Cận tức là nghiên cứu một trong những gương mặt thơ lớn của thời đại, một trong những nhà văn hóa có đóng góp đáng kể cho sự nghiệp văn học, văn hóa dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Trên thi đàn Việt Nam vào những năm 1930-1945, từ phong trào Thơ mới đã xuất hiện những tài năng thơ, trong đó có Huy Cận, Xuân Diệu Nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua quyển Thi nhân Việt Nam đã nhận xét bước đầu về phong cách của các nhà thơ trẻ: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [128, tr. 37]Dấu ấn phong cách thơ Huy Cận đã bắt đầu từ tập Lửa thiêng (ra đời năm 1940). Âm hưởng của tập thơ đã lan tỏa “một thời đại trong thi ca” (*tên tiểu luận của nhà phê bình Hoài Thanh, đăng trong Thi nhân Việt Nam) từ giữa thế kỷ XX đến nay.Ngày nay, từ thế kỷ XXI, với cái nhìn mới, rộng mở chúng ta càng có cơ hội nghiên cứu thấu đáo hơn phong cách thơ đặc sắc của Huy Cận trong giai đoạn sáng tác trước Cách Mạng Tháng Tám (đặc biệt, nghiên cứu dày công về tập Lửa thiêng).1.2. Xã hội Việt Nam đang đổi mới, chuyển biến, hội nhập thế giới. Hoạt động văn hóa nói chung đang được rộng mở. Các hoạt động lý luận, phê bình văn học nghệ thuật mới của thế giới cũng được chúng ta nghiên cứu, gạn lọc, tiếp thu trên tinh thần “học xưa vì nay”, “học ngoài vì trong”. Trong đó, có thể kể đến sự gạn lọc, tiếp thu, vận dụng ở lĩnh vực nghiên cứu văn học.Vì vậy, vấn đề nghiên cứu phong cách thơ Huy Cận trên cơ sở lý luận tổng hợp mới có ý nghĩa cấp thiết trong việc góp phần phục vụ sự nghiệp đổi mới, phát triển văn hóa, khoa học, giáo dục nước nhà. Từ lòng ngưỡng mộ, yêu quý thơ ca Huy Cận, đặc biệt là tập thơ Lửa thiêng (với những câu thơ từ lâu ám ảnh sâu sắc trong tâm thức người viết: Một chiếc linh hồn nhỏ: Mang mang thiên cổ sầu); thêm nữa, từ những vấn đề thú vị đặt ra ở trên trong bối cảnh mới, đã tạo động lực cho người viết suy nghĩ, xác định và chọn lựa đề tài nghiên cứu Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng. 2. Mục đích nghiên cứuTrên cơ sở vận dụng một số đặc điểm lý luận văn học phương Đông truyền thống và lý luận văn học phương Tây hiện đại quen thuộc, luận án cụ thể hóa công việc tìm hiểu, khám phá thêm một số khía cạnh thi pháp thơ, ngôn ngữ thơ đầy tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ Huy Cận. Và, cũng nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu phong cách nghệ thuật đặc sắc của nhà thơ trong quá trình từ khi tập thơ ra đời, luận án tìm hiểu những ảnh hưởng và âm hưởng của Lửa thiêng trong thời đại, so sánh đôi nét biểu hiện giống, khác nhau giữa thơ Huy Cận và thơ Xuân Diệu với một số nhà thơ cùng thời hoặc xuất hiện ở giai đoạn sau không lâu. 3. Lịch sử vấn đềTập thơ Lửa thiêng của Huy Cận ra mắt bạn đọc vào tháng 11, năm 1940 (nhà xuất bản Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn in ấn và phát hành, khoảng 3.000 cuốn). Tập thơ do họa sĩ Ngọc Vân trình bày bìa với lời đề tựa của Xuân Diệu. Nhìn lại chặng đường dài 70 năm từ lúc Lửa thiêng ra đời đến nay, qua khảo sát nhiều bài viết về tập thơ, người viết nhận thấy Xuân Diệu có thể được xếp là người đầu tiên có bài nhận xét, đánh giá, giới thiệu thơ Huy Cận với công chúng một cách bao quát và sớm nhất.Xuân Diệu cảm nhận tinh tế Lửa thiêng - “nỗi thê thiết của ngàn đời”, “lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế”. Lửa thiêng mang “hồn xưa” xôn xao, đượm “một tấm lòng thương yêu không biết có tự đời nào, và đoạn thảm, hồi vui cùng nhuốm một màu vĩnh viễn”. Là bạn tri kỷ, tri âm của Huy Cận, ngay từ buổi đầu Lửa thiêng ra đời, ông đã “nghe”, đã “cảm” được “cảm giác không gian” và “cái sầu của vũ trụ” của Huy Cận: “ ta nghe xa vắng quanh mình; ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô ” Sau Xuân Diệu, hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh- Hoài Chân có bài nhận xét Lửa thiêng: “ Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong ”, “Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Hai nhà phê bình cũng cho rằng hồn thơ Huy Cận “trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian ”, với “con đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch, tứ bề càng vắng lặng, mênh mông ” [128, tr. 164-165]Tâm trạng này, chính Chế Lan Viên qua một tứ thơ tương tự cũng đã bộc bạch một cách đau đáu về sự cô đơn trên nẻo đường riêng của thơ ông:Đường về thu trước xa lắm lắmMà kẻ đi về chỉ một tôi. Theo dõi những diễn biến thơ ca trên thi đàn lúc bấy giờ, Lương An viết trên báo Tràng An, số 12, tháng 3 năm 1941, tỏ ra khá ưu ái khi nhận xét Lửa thiêng:“Tập thơ Lửa thiêng là một tập thơ rất đáng chú ý về tình cảm cũng như về văn pháp. Không cần so sánh cũng đủ nhận thấy đó là một tập thơ hay và tác giả là một thi nhân có đặc tài. Trong cuộc xây đắp thi giới nước nhà, một tập thơ như thế là tất cả sự gắng công, và có lẽ là một công trình văn nghệ đáng chú ý nữa.Lửa thiêng ra đời, được hoan nghênh nhiệt liệt, cái đó không phải nghi ngờ gì nữa. Nhưng phần thưởng đích đáng nhất cho Huy Cận là tác phẩm của chàng sẽ được sống lâu.”Trái với sự ngợi ca của nhiều người dành cho thơ Huy Cận, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đánh giá Lửa thiêng có phần khe khắt hơn. Ông nhận xét thơ tả cảnh của Huy Cận vẫn còn mang nét chung “cái cảm giác của loài người từ thiên cổ mà thi nhân bao lần ca ngợi”, “ .Huy Cận nghệ sĩ ở chỗ đó và cũng thiếu cái đặc sắc của nhà thơ ở chỗ đó: ông đã không đem cái tâm hồn của riêng ông để hòa cùng vũ trụ ” Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng thơ tả tình của Huy Cận không có những câu “nồng nàn, tha thiết, nóng nảy như thơ Xuân Diệu”, “không nhớ nhung, đắm đuối như thơ Lưu Trọng Lư”. Lời tình tự của Huy Cận “rất đẹp, rất êm đềm, nhưng thật không phải những lời tha thiết tự tâm can ” [101, tr. 417-419] Trong những thập niên 60, 70, và đặc biệt vào giữa đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam bắt đầu có những công trình nghiên cứu mới dành cho trào lưu văn học lãng mạn 1930-1945. Phong trào Thơ mới với tác phẩm của những nhà thơ tên tuổi như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Tế Hanh được phân tích, đánh giá cởi mở hơn.Ngoài những bài viết hoặc tiểu luận nghiên cứu về Huy Cận của Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Mã Giang Lân , một số chuyên luận của các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ nghiên cứu sâu về Thơ mới đều đề cập và phân tích tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận. Lửa thiêng không tách khỏi quỹ đạo chung của thơ ca lãng mạn giai đoạn này nhưng vẫn có những điểm riêng qua cảm nhận thời đại và quan niệm thẩm mỹ của Huy Cận. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ mới có nhiều điểm gặp gỡ với quan điểm nghệ thuật của các nhà văn lãng mạn phương Tây thế kỷ XIX. Nói chung đó là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Và, tuy quan điểm mỹ học của các nhà lãng mạn ở nước ta thực ra cũng chẳng có gì mới so với các nhà lãng mạn phương Tây nhưng nó vẫn có những nét riêng, mới, lạ của thơ ca lãng mạn Việt Nam giai đoạn này. Nét riêng này được thể hiện từ quan niệm thẩm mỹ của thơ Thế Lữ với cái tôi nghệ sĩ là “cây đàn muôn điệu”; Xuân Diệu với quan niệm thẩm mỹ hồn thơ là “những khúc nhạc thơm”, “khúc nhạc hường”; Huy Thông đi tìm giấc mộng anh hùng trong lịch sử; Lưu Trọng Lư “hướng cái nhìn vào một thế giới mơ màng”; còn “chàng Huy Cận ngày xưa hay sầu lắm”, lại đi vào vũ trụ trăng sao ” [25, tr. 53]Khảo sát phong trào Thơ mới như hệ quy chiếu từ thực tại xã hội đến quan niệm sáng tác, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nêu lên một số nội dung, một số đề tài được tìm thấy trong thơ mới: “cái tôi” cô đơn; tình yêu mộng tưởng; cảnh đẹp của thiên nhiên, sông núi, làng quê; tình yêu quê hương, đất nước Và, bóc tách ra lớp vỏ bên ngoài của thơ ca lãng mạn, Hà Minh Đức nhận định cái “mạch ngầm” ý nghĩa trong Thơ mới: “Thơ mới chứa đựng nhiều nỗi niềm, niềm vui gắn bó với từng cuộc đời đến những nỗi buồn riêng thấm thía cô đơn và đau khổ. Trào lưu thi ca này như một tâm hồn trĩu nặng ưu tư và xao động trong tình cảm buồn vui, xót xa. Những tình cảm này gắn liền với từng cuộc đời thơ, nhưng cũng mang theo hơi thở chung của thời đại. Đó là tiếng nói, tâm tình của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị trước một thực TÀI LIỆU THAM KHẢOI/ Thơ Huy Cận[1] Huy Cận (1967) , Lửa thiêng, Hoa Tiên tái bản, Sài Gòn[2] Huy Cận (1995), Lửa thiêng, Nxb Hội Nhà văn, HN[3] Huy Cận (1996), Thơ Huy Cận, Nxb Đồng Nai[4] Huy Cận (2005), Tác phẩm văn học được giải thưởng văn học Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, HN[5] Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Nam sưu tầm, giới thiệu (1986), Tuyển tập Huy Cận, Nxb Văn học, HNII/ Thơ Xuân Diệu[1] Xuân Diệu (1983), Tuyển tập thơ Xuân Diệu, Nxb Văn học, HN[2] Xuân Diệu (1987), Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Sở Văn hóa- Thông tin Nghĩa Bình xuất bản[3] Xuân Diệu (1999), Thơ tình Xuân Diệu, Nxb Đồng Nai III/ Thơ các tác giả khác[1] Nguyễn Bính (1986), Thơ Nguyễn Bính, Nxb Văn học và Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, HN[2] Nguyễn Du (1996), Nguyễn Du toàn tập 1, 2, Mai Quốc Liên phiên âm, dịch nghĩa, chú thích, với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, HN[3] Hồ Dzếnh (1997) , Thơ Hồ Dzếnh, Nxb Đồng Nai[4] Tế Hanh (2005), Thơ Tế Hanh, Nxb Đồng Nai[5] Tố Hữu (1979), Tác phẩm Thơ, Nxb Văn học, HN[6] Tố Hữu (2008) Toàn tập, tập 1 – Thơ ca, Nxb Văn học, HN[7] Phan Huy Ích (2002), Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, Nguyễn Văn Xuân sưu tầm, chú giải, Nxb Văn nghệ, TPHCM[8] Bích Khê (1996) Thơ Bích Khê, Nxb Đồng Nai[9] Nguyễn Khuyến (1979), Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nxb Văn học, HN[10] Lưu Trọng Lư (2005), Thơ Lưu Trọng Lư, Nxb Đồng Nai[11] Thế Lữ (2009), Thơ Thế Lữ, Nxb Đồng Nai[12] Cao Bá Quát (1977), Thơ Cao Bá Quát, Nxb Văn học, HN[13] Nguyễn Xuân Sanh (1991), Tuyển tập thơ văn, Nxb Văn học, HN[14] Hàn Mặc Tử (1987) Tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử, Nxb Văn học, HN[15] Chế Lan Viên (2008), Thơ Chế Lan Viên, Nxb Đồng NaiIV/ Thơ nước ngoài (bản dịch)[1] Huỳnh Phan Anh dịch (2006) Rimbaud toàn tập, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TPHCM[2] Trần Mai Châu dịch (1999), Thơ Pháp thế kỷ XIX, Nxb Trẻ, TPHCM[3] Tản Đà dịch (1989), Thơ Đường, Nxb Trẻ và Hội Nghiên cứu Giảng dạy Văn học TPHCM[4] Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản dịch (2006), Đường thi trích dịch, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, HN[5] Đỗ Khánh Hoan dịch (1972), Rabindranath Tagore- Lời Dâng, Nxb An Tiêm, Sài GònV/ Tiếng Việt1. Lê Thị Anh (2007), Thơ Mới với Thơ Đường, Nxb Văn học, HN2. Antoine Compagnon (2006) Bản mệnh của lí thuyết, văn chương và cảm nghĩ thông thường (Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch), Đại học Sư phạm Hà Nội xuất bản3. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca (nhiều người dịch), Nxb Văn học, HN4. Lại Nguyên Ân, Ngô Văn Phú (2001), Hồ Dzếnh, một hồn thơ đẹp, Nxb Văn hóa- Thông tin, HN5. Nguyễn Bao sưu tầm và giới thiệu (1991), Xuân Thu Nhã Tập Nxb Văn học, HN6. Phạm Quốc Ca (2008), Thơ như tôi đã hiểu (tham luận Hội nghị khoa học “Những xu hướng mới trong thơ Việt Nam đương đại”), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM7. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN8. Huy Cận (2000), Kinh cầu tự- Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, HN9. Huy Cận (2001), Sáng tạo văn học, nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc- Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, HN10. Huy Cận (2002) Hồi ký song đôi tập 1, Nxb Hội Nhà văn, HN 11. Huy Cận (2003) Hồi ký song đôi tập 2, Nxb Hội Nhà văn, HN 12. Huy Cận (2005), Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, HN13. Trần Mai Châu (1999), Thơ Pháp thế kỷ XIX, Nxb Trẻ, TPHCM . thành phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận Chương 2: Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận thể hiện qua vũ trụ thơ Lửa thiêng Chương 3: Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận thể hiện qua ngôn ngữ thơ Lửa. minh phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng. (Và, phong cách đó vẫn là cơ sở cho chặng đường sáng tác sau này của nhà thơ) . 4.2. Đối tượng nghiên cứu Luận án chủ yếu nghiên cứu thơ Huy. Đi vào cõi thơ của Bùi Giáng, Dư vang nghệ thuật của Trần Nhựt Tân… đã luận bàn, phân tích nhiều vấn đề liên quan đến tập Lửa thiêng của Huy Cận. Viết về hồn thơ Huy Cận qua Lửa thiêng, Phạm
  • 213
  • 3,895
  • 4

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU potx

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU potx
. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản ,thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị. Tố Hữu là một chiến sĩ – thi sĩ, làm thơ trước. gọi, nhắn nhủ. Thơ Tố Hữu phần nhiều có cách diễn đạt tự nhiên, hơi thơ liền mạch. Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính. trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách
  • 5
  • 564
  • 0

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu doc

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu doc
. Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản ,thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị. Tố Hữu là một chiến sĩ – thi sĩ, làm thơ trước. gọi, nhắn nhủ. Thơ Tố Hữu phần nhiều có cách diễn đạt tự nhiên, hơi thơ liền mạch. Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính. trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách
  • 10
  • 616
  • 1

Phong cách nghệ thuật thơ huy cận qua lửa thiêng bản tóm tắt tiếng anh

Phong cách nghệ thuật thơ huy cận qua lửa thiêng bản tóm tắt tiếng anh
. Thang, Do Lai Thuy, Le Tien Dung, Ngo Van Phu, Vu Quan Phuong, Tran Manh Hao, Nguyen Dang Diep, Vu Gia, Chu Van Son, Tran Huyen Sam, Bui Quang Tuyen, Tran Thien Khanh, Le Thi Anh, etc. - Referring. spent many pages on Huy Can and analyzing Collection Lửa thiêng. Phan Cu De said: " the young Huy Can was very sad, "and went into the world of the moon and stars Lửa thiêng is not separated. of the poetry of Huy Can, especially the poetry collection Lửa thiêng, this special study focuses on the topic: The artistic style of Huy Can’s poetry through his work Lửa thiêng (Sacred fire). 2.
  • 24
  • 697
  • 0

Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Quần Phương

Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Quần Phương
. Phong cách nghệ thuật và hành trình sáng tạo thơ Vũ Quần Phương Chƣơng 2: Cảm thức trữ tình mang tính triết lí – đặc trưng phong cách thơ Vũ Quần Phương Chƣơng 3: Đặc trưng thi pháp thơ Vũ. những người đi trước để đi sâu tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Vũ Quần Phương. 3. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn khảo sát đặc điểm phong cách thơ Vũ Quần Phương, làm nổi bật được nét tinh tế,. nghiên cứu về thơ Vũ Quần Phương nhưng vẫn còn thiếu những chuyên đề đi sâu về phong cách thơ ông. Đó chính là lí do chúng tôi kế thừa và lựa chọn đề tài Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Quần Phƣơng
  • 99
  • 578
  • 1

Phong cách nghệ thuật thơ Hoàng Trung Thông

Phong cách nghệ thuật thơ Hoàng Trung Thông
. tập thơ “Đầu sóng” của Hoàng Trung Thông) cũng đã dành riêng một mục “một phong cách thơ để bàn về phong cách thơ Hoàng Trung Thông. Theo đánh giá của tác giả này thì phong cách thơ Hoàng Trung. hiện của phong cách thơ Hoàng Trung Thông. Tóm lại, đánh giá về phong cách thơ Hoàng Trung Thông có những ý kiến khác nhau hoặc về phƣơng diện nội dung hoặc về phƣơng diện nghệ thuật. Đó. Những cảm hứng lớn trong thơ Hoàng Trung Thông. Chƣơng 2: Những xu hƣớng chính trong thơ Hoàng Trung Thông. Chƣơng 3: Một số phƣơng diện nghệ thuật thơ Hoàng Trung Thông. Sau cùng là danh
  • 110
  • 659
  • 0

Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương

Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương
. ba chương : Chương 1 :Vũ Hoàng Chương - một cái Tôi cô đơn , buồn nản , chán chường nhất trong Thơ mới Chương 2: Con đường thoát ly hiện thực . Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương. nên trong thơ Vũ Hoàng Chương một nét rất riêng, rất đặc sắc. 8 Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ để hình dung một cách toàn diện về phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương. Việc. ý, Vũ đắm hồn vào những trang thơ mà Vũ cho đó mới thật đáng gọi là thơ ”. Đó chính là tinh thần thơ Vũ Hoàng Chương. Đó cũng chính là phong cách thơ Vũ Hoàng Chương. Nhìn chung hầu hết các
  • 102
  • 1,182
  • 7

Việt Bắc thể hiện rất đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu

Việt Bắc thể hiện rất đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu
“Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ của dân tộc”-Nguyễn Đình Thi đã nhận xét như thế về thơ Tố Hữu. BÀI LÀM    “Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ của dân tộc” - Nguyễn Đình Thi đã nhận xét như thế về thơ Tố Hữu. Đọc Tố Hữu ta thấy nhận xét của Nguyễn Đình Thi thật đúng và cảm nhận được dân tộc đậm đà, thấy phảng phất trong “hồn thơ” của một thời quá khứ.  Việt Bắc là một trong số rất nhiều bài thơ mang nét “cổ điển" như thế.Đọc Việt ta cảm nhận được sức mạnh của bản sắc dân tộc ấy.    Tính dân tộc trong thơ Tố Hữư trước tiên thể hiện ở hình thức thể hiện .Có lẽ Việt Bắc là bài thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu. trong đó âm điệu lục bát đẫ nhuần nhuyễn, tinh diệu, đến mức mẫu mực: Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son. Nhớ sau tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương.    Những câu thơ lục bát ây có thể xếp bên cạnh những câu ca dao dân gian, những câu lục bát cổ điển hay nhất của ta. Tiếng Việt trong những câu ấy thật bình dị mà đằm thắm, thật trong trẻo mà sâu lắng. Lời thơ quyện thật chặt với những tiết tấu co duỗi mềm mại, cất lên như những nét nhạc, những giai điệu bằng ngôn từ.    Nhưng nói đến Việt Bắc có lẽ cái gấy ấn tượng đậm nhất trong người đọc là cái cấu trúc độc đáo của nó. Tố Hữu đã tái hiện một bức tranh hoành tráng trải ra trong một thời gian dài tới mười lăm năm (Nhớ khi kháng Nhật thủa cồn Việt Minh) bao quát một không gian rộng, bao quát toàn bộ Việt Bắc (từ "Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" đến "Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà”). Bài thơ muốn có xu hướng trở thành diễn ca lịch sử (kiểu như "Ba mươi năm có Đảng" sau này!). Nhưng sở dĩ nó không là diễn ca hẳn, bởi vì thi sĩ đã tìm đến một kết cấu truyền thống của lối Hát giao duyên, cả bài thơ dài như một cuộc hát đối đáp nam nữ. Tựa như những khúc trữ tình trong Giã bạn hay tiễn dặn người yêu. Cả bài thơ dài chủ yếu là lời của hai nhân vật. Người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Tựa như "liền chị - liền anh" trong hát Quan họ. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng và Chính phủ kháng chiến với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một trai gái. Nói khác hơn, tác giả đã chọn tình yêu của đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc, với "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng". Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi.    Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách tâm tình hóa chính là một đặc trưng của lối thơ trữ tình - chính trị của Tố Hữu. Việc "dời đô” (Việt Bắc là thủ đô kháng chiến - Tố Hữu gọi là "Thủ đô gió ngàn") đã thành câu chuyện ân tình chung thuỷ của người cách mạng với rừng núi chiến khu, với đồng bào, với quá khứ, với chính mình... Đôi trái gái xưng hô theo lối rất dân gian: Ta - mình. Nỗi băn khoãn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay giã bạn là ân tình - chung thuỷ: Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng? Phố cao còn nhớ bàn làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng    "Mình về mình có nhớ ta" đã là chuyện chung thuỷ! Nhưng "mình đi mình có nhớ mình” thì ân tình chung thuỷ đã được đẩy lới một mức thật sâu. Mình đi khỏi Việt Bắc là đi khỏi thời gian khổ, nơi gian khổ, có thể mình quên ta, phụ ta. Nhưng mình có nhớ chính mình chăng, có phu chính mình được chăng? Bởi quên Ta cũng chính là quên Mình đó. Những câu hỏi thâm thuý ân tình như vậy đã giúp Tố Hữu dân gian hoá, truyền thống hoá một vấn đề của cách mạng, vấn đề của hôm nay. Người con trai cũng trả lời, cũng ghi lòng tạc dạ với một tinh thần như thế. Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Nhớ cao chàng khuất non xanh Phố đông càng giục chân nhanh bước đường Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu    Kết cấu đối đáp hài hoà với lối thơ lục bát giàu chất dân gian như thế đã làm cho bài Việt Bắc của Tố Hữu có cái dáng dấp của một bài hát giao duyên bác họ được viết theo lối dân gian. Nó làm cho bài thơ gần gũi với tâm hồn quần và dễ dàng gia nhập vào mạch văn hoá dân gian, trở thành những bài hát chí có thể trình bày bài thơ theo lối diễn xướng dân gian rất phù hợp.    Có lẽ cũng cần phải nói thêm về phong vị cổ điển của nó. Đây là một nét truyền thống khác của thơ Tố Hữu. Trong bài "Kính gửi cụ Nguyễn Du", chúng ta thấy không khí lục bát thật trang trọng. Thi sĩ đã dùng những thi liệu của “truyện Kiều" để tâm tình với tác giả "Truyện Kiều”. Ông cũng dùng hình thức lấy Kiều, tập Kiều để làm cho bài thơphong vị cổ điển. Còn ở đây không thế. Chúng ta đã thấy kết câu trữ tình của bài thơ, giọng điệu tứ bình của bài thơ có phần nghiêng hẳn về cổ điển. Câu lục bát ở những chỗ ấy thường chật chứ không lỏng, chữ "đúc" nhiều, chữ "nước" ít. Hình thức tiểu đối được sử dụng rất dầy và biến hoá nhịp nhàng. Nhưng có lẽ đáng nói hơn vẫn là lối vẽ thiên nhiên : các câu thơ lục bát ấy. Nói riêng đoạn "Hoa cùng người", có thể thấy thi sĩ lạo hình theo lôi xây dựng bộ tranh trữ tình - một hình thức rất phổ của nghệ thuật cổ diển. Hoa và người soi chiếu nhau, tôn vinh lẫn nhau, bức tranh dường như đã tái hiện trọn vẹn đầy đủ nhịp vận hành luân chuyển của thiên nhiên và con người Việt Bắc: Ta về mình có nhớ ta, Ta về, ta nhớ những hoa cùng người  Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trổng rừng  Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình  Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung    Thành công của bài thơ Việt Bắc còn ở nhiều phương diện khác như: ngôn ngữ, nội dung, hình tượng nhân vật trữ tình... Nhưng có thể khẳng đinh chất dân chất truyền thống đậm đà đã tạo nên sức sống, sức lay động lòng người cho thơ. Và Việt Bác cùng với những bài thơ khác của Tố Hữu đã khẳng định phong cách độc đáo cùa ông trong suốt chặng đường cầm bút của người nghệ sĩ mạng: từ hiện đại trở về với cổ điển, trở về với nét dân tộc và truyền thống. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. ... lối thơ lục bát giàu chất dân gian làm cho Việt Bắc Tố Hữu có dáng dấp hát giao duyên bác họ viết theo lối dân gian Nó làm cho thơ gần gũi với tâm hồn quần dễ dàng gia nhập vào mạch văn hoá dân. .. công thơ Việt Bắc nhiều phương diện khác như: ngôn ngữ, nội dung, hình tượng nhân vật trữ tình Nhưng khẳng đinh chất dân chất truyền thống đậm đà tạo nên sức sống, sức lay động lòng người cho thơ. .. lòng người cho thơ Và Việt Bác với thơ khác Tố Hữu khẳng định phong cách độc đáo cùa ông suốt chặng đường cầm bút người nghệ sĩ mạng: từ đại trở với cổ điển, trở với nét dân tộc truyền thống Xem
  • 3
  • 662
  • 2

Đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu

Đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu
1. Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám: - Hai tập thơ đầu tay là thơ thơ và gửi hương cho gió đã đem lại cho nền văn học nước nhà một đóng góp vô giá cho cuộc cách mạng thơ ca giai đoạn 1930-1945, thể hiện nhiều sự cách tân táo bạo. Tiếp thu phần tích cực của thơ tượng trưng Pháp với lí tưởng thẩm mĩ tiến bộ: Lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp, thơ Xuân Diệu thoát khỏi hệ thống biểu hiện ước lệ, phi ngã cảu thơ cũ, ông mạnh giản đề xướng “cái tôi” say đắm, chân thành, khao khát sống, khao khát yêu thương. - Trước cách mạng tháng Tám, thơ Xuân Diệu thể hiện hai tâm trạng dường như trái ngược nhau: yêu đời, tha thiết với cuộc sông, đồng thời cũng rất chán nản, hoài nghi, cô đơn. Hai tâm trạng này có mối liên quan nhân quả với nhau. + Là 1 nhà thơ lãng mạn, yêu đời, tha thiết với cuộc sống, Xuân Diệu luôn vươn tới cái hoàn mỹ, tuyệt đích, đôi khi theo ảo tưởng. + Thực tế cuộc đời không đáp ứng được ước mơ cảu người nghệ sĩ nên Xuân Diệu cảm thấy vỡ mộng, bất lực và rơi vào “cái tôi cô đơn” của chính mình. 2. Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám: - Sau Cách mạng, hồn thơ Xuân Diệu mở rộng như muốn hòa nhập tâm hồn mình vào cuộc đời mới. Hai trường ca Ngọn quốc kì và Hội nghị non sông mang giọng điểu sở thi, hùng tráng chứa chan niềm tin yêu vào cuộc sống mới của đất nước, của dân tộc. Thơ Xuân Diệu thể hiện sự nổ lực muốn hòa nhập cái tôi vào cái ta chung rộng lớn của Đất nước. - Xuân Diệu làm việc với 1 cường độ phi thường, số lượng tác phẩm của ông rất lớn. Ngoài mạng thơ chiến đấu, Xuân Diệu trở lại với thơ tình yêu trong âm điệu reo vui, đằm thắm, trữ tình. Đến nay,Xuân Diệu được mệnh danh là “Ông hoàng của thơ tình” loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
  • 1
  • 443
  • 4

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
a. Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc: bao trùm thơ Tố Hữu là vấn đề lý tưởng,lẽ sống: lẽ sống CM,lẽ sống cộng sản,vì mục đích chung của đất nước.Đi liền với lẽ sống là tình cảm lớn,niềm vui lớn của con người CM đối với lãnh tụ,nhân dân,đất nước. b.    Thơ Tố Hữu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: nhà thơ chủ yếu quan tâm đến những vấn đề sống còn của đất nước.Cảm hứng của Tố Hữu là cảm hứng lịch sử dân tộc chứ không phải cảm hứng thế sự đời tư,với những con người mang phong cách tiêu biểu cho cả cộng đồng như: chị Trần Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi… c.    Thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình,ngọt ngào,đày tình thương mến: xuất phát từ quan niệm về thơ: “Thơ là tiếng nói đồng ý,đồng chí,đồng tình – Thơ là điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu.” Tuy nói về những vấn đề chính trị nhưng thơ Tố Hữu lại như “thơ của một tình nhân” đầy niềm say đắm.Điều này được thể hiện qua các hô ngữ, câu cảm thán,cách xưng hô: “anh em ơi”, “đồng bào ơi”… d.    Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện: điều này được thể hiện qua những thi liệu quen thuộc,gần gũi như phong cảnh quê hương đất nước,con người bình dân…và ngôn ngữ giản dị,dễ hiểu.Tính dân tộc còn được thể hiện ở thể thơ lục bát, thơ bảy chữ được biến hóa linh hoạt,cùng với nhiều biện pháp tu từ cổ điển được sử dụng nhưng lại biểu hiện được nội dung mới của thời đại.Giọng thơ mang đầy tính nhạc điệu. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
  • 1
  • 296
  • 2

Phong cách nghệ thuật thơ Khương Hữu Dụng

Phong cách nghệ thuật thơ Khương Hữu Dụng
... cứu phong cách nghệ thuật thơ Khương Hữu Dụng cách hệ thống Đối tượng phạm vi nghiên cứu Sự nghiệp thơ Khương Hữu Dụng gồm hai mảng sáng tác dịch Luận văn tập trung nghiên cứu thơ Khương Hữu Dụng. .. thường ñi vào thơ Khương Hữu Dụng cách tự nhiên Thơ ông viết ñiều giản dị, ñời thường Đọc thơ Khương Hữu Dụng, ta dễ nhận người ñời tư, thơ, tiếng lòng nhà thơ trải vần thơ Những thơ bà nội, chị... Dante Ngoài sáng tác thơ, mảng dịch thơ Khương Hữu Dụng ñóng góp lớn lao cho thơ Việt Nam 1.2 Quan niệm thơ lao ñộng nghệ thuật Mỗi nhà thơ ñích thực nhà thơ có tư tưởng nghệ thuật riêng Tư tưởng
  • 26
  • 170
  • 0
1 2 3 4 .. >